NHỮNG BỆNH THƯỜNG GẶP Ở THỎ CÁCH PHÒNG & ĐIỀU TRỊ

I. NGUYÊN TẮC CHUNG

Thỏ là loại gia súc yếu, rất nhạy cảm với ngoại cảnh, sức đề kháng của cơ thể kém, dễ nhiễm các mầm bệnh và phát triển thành dịch bệnh do các yếu tố của môi trường ngoại cảnh gây nên. Khi mắc bệnh thỏ dễ chết, có khi chết hàng loạt, gây thiệt hại lớn về kinh tế. Cho nên, phải nuôi thỏ đúng yêu cầu kỹ thuật, chú ý nhất là khâu vệ sinh phòng bệnh và chăm sóc nuôi dưỡng.

Thông thường, một căn bệnh chỉ xảy ra khi hội đủ 3 yếu tố:

– Xuất hiện mầm bệnh

– Điều kiện vệ sinh môi trường kém

– Sức đề kháng của gia súc giảm

Do đó, với phương châm phòng bệnh là chính, thực hiện tốt nguyên tắc “3 sạch”: ăn sạch, ở sạch, uống sạch đảm bảo môi trường chăn nuôi sạch sẽ. Đặc biệt, khi thời tiết hoặc môi trường sống thay đổi cần phải vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng thật tốt, có thể bổ sung vitamin cho thỏ từ 3-5 ngày để tăng sức đề kháng và chống stress. Phòng bệnh tích cực bằng cách sử dụng vaccin, thuốc kháng sinh để ngăn chặn sự xuất hiện và phát tán mầm bệnh. Thường xuyên theo dõi đàn thỏ để phát hiện và điều trị bệnh kịp thời.

II. CÁC BỆNH THƯỜNG XẢY RA TRÊN THỎ

1. Bệnh sình bụng, tiêu chảy

Thỏ là nhóm vật nuôi nhạy cảm với các loại vi sinh vật, vì vậy cần thận trọng trong vấn đề ăn uống của thỏ.

– Nguyên nhân: Bệnh xảy ra do thỏ ăn phải thức ăn bị ôi thiu, ẩm mốc, hoặc do thay đổi thức ăn đột ngột làm rối loạn tiêu hóa. Các loại thức ăn thô xanh có chứa quá nhiều nước cũng có thể làm thỏ bị tiêu chảy. Bệnh thường xảy ra trên thỏ trưởng thành và thỏ giai đoạn sau cai sữa.

– Triệu chứng: Thỏ bị chướng hơi, bụng phình to, không yên tĩnh, khó thở, chảy nước dãi ướt lông quanh 2 mép. Xuất hiện triệu chứng tiêu chảy: phân chuyển nhanh từ hơi sệt sang lỏng như nước, màu đen, rất hôi thối. Thỏ có thể chết nhanh do mất nước và ngạt thở.

– Điều trị: Ngưng ngay các loại thức ăn, nước uống và những yếu tố gây mất vệ sinh. Sử dụng thuốc tiêu chảy đặc trị cho thỏ pha loãng cho uống 1 lần/ ngày, dùng từ hai đến ba ngày, kết hợp với việc sử dụng nước chiết xuất từ các loại lá có chất chát như búp ổi, búp trà,… và tiêm hoặc uống viatamin A, B để tăng sức đề kháng.

– Phòng bệnh: Sử dụng thức ăn sạch, đảm bảo chất lượng, hợp vệ sinh; Khi thay đổi nguồn thức ăn, cần chuyển tiếp từ từ cho thỏ quen dần; cần phơi hoặc dự trữ trước 1 ngày đối với các loại thức ăn xanh có chứa quá nhiều nước.

2. Bệnh ghẻ

Là một bệnh khá phổ biến trên thỏ, tuy không gây chết thỏ ngay nhưng thiệt hại về kinh tế rất lớn do mức độ lây lan trong đàn rất nhanh, làm thỏ gầy yếu, chậm lớn.

– Nguyên nhân: Do các loại ký sinh trùng ngoài da gây ra, chủ yếu gồm 2 dạng: ghẻ đầu do loài ghẻ Notoedres ký sinh gây bệnh ở mí mắt, mũi, mép, móng chân, gót chân, da vùng hậu môn và cơ quan sinh dục; dạng ghẻ tai do loài ghẻ Psoroptes ký sinh gây bệnh ở lỗ tai, vành tai. Bệnh thường xảy ra khi điều kiện chăn nuôi vệ sinh kém; xảy ra ở mọi lứa tuổi của thỏ.

– Triệu chứng: Thỏ ngứa, rụng lông và đóng vảy. Ở các điểm ghẻ ban đầu thấy rụng lông, sau đó thấy các vảy rộp máu trắng xám, dầy dần lên và khô cứng lại. Đôi khi dưới vảy ghẻ có mủ do nhiễm trùng gây viêm da. Thỏ không yên tĩnh, kém ăn, gầy dần và chết.

– Điều trị: Thuốc đặc trị là Ivermectin 2.5 (hoặc Bivermectin), sử dụng tiêm dưới da. Liều dùng: 1 ml/ 12 – 15 kg thể trọng, tiêm dưới da.

– Phòng bệnh: Đảm bảo vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt. Chuồng nuôi phải khô ráo, sạch sẽ, thoáng mát; mật độ nuôi vừa phải. Thường xuyên kiểm tra, cách ly và điều trị kịp thời những con có biểu hiện bệnh. Có thể sử dụng thuốc Ivermectin để phòng bệnh ghẻ với liều phòng bằng 1/2 liều điều trị, cách 3 tháng tiêm lặp lại.

3. Bệnh bại huyết thỏ (Haemorrhagic) còn gọi là bệnh xuất huyết

– Nguyên nhân: Là bệnh truyền nhiễm cấp tính do Calicivirus gây ra, có tính lây lan rất nhanh và rộng. Bệnh bùng phát rất nhanh, gây chết thỏ hàng loạt. Bệnh thường xảy ra trên thỏ từ 6 tuần tuổi trở lên.

– Triệu chứng: Thỏ vẫn ăn uống bình thường, đôi khi thỏ lờ đờ, bỏ ăn trong thời gian ngắn rối chết hàng loạt. Trước khi chết, thỏ giãy giụa, quay vòng (triệu chứng thần kinh), máu ộc ra ở miệng, mũi; gan sưng to, bở; vành tim, phổi xuất huyết. Bệnh có thể gây chết trên 90% tổng đàn.

– Điều trị: Khi thỏ đã phát bệnh, việc điều trị hầu như không có kết quả do khả năng lây lan rộng và thỏ chết rất nhanh.

– Phòng bệnh: Tăng cường vệ sinh chuồng trại. Sử dụng vaccin tiêm phòng cho thỏ. Liều dùng: 1 ml/ 1 con thỏ từ 2 tháng tuổi trở lên, tiêm dưới da hoặc bắp thịt, cách 4 – 6 tháng có thể tiêm lặp lại.

4. Bệnh tụ huyết trùng

Nguyên nhân: do vi khuẩn Pasteurella multocida gây ra. Tỷ lệ nhiễm bệnh cao (có thể trên 90%). Bệnh phát khi có sự thay đổi đột ngột về nhiệt độ, ẩm độ, hoặc thông gió kém, vệ sinh kém, mật độ nuôi dày,… hoặc do tiếp xúc trực tiếp với thỏ bệnh. Về sinh học bệnh có liên quan đến tuổi (quá nhỏ hoặc quá già), tình trạng dinh dưỡng, mang thai, giống. Một số thỏ kỳ cựu, mang mầm bệnh nhưng không thể hiện triệu chứng lâm sàng sẽ là nguồn truyền lây.

Triệu chứng:  bệnh xảy ra chủ yếu ở đường hô hấp. Có nhiều thể:

– Thể nghẹt mũi: là triệu chứng phổ biến nhất của thỏ bệnh tụ huyết trùng. Thỏ có nhiều dịch nhày đục ở mũi, quanh mũi với triệu chứng nhảy mũi và ho.

– Thể viêm phổi: Thỏ bị ảnh hưởng thường chết cấp khi chưa có biểu hiện lâm sàng, đặc biệt ở thỏ nhỏ. Thỏ ủ rũ, bỏ ăn. Tổn thương phổi cấp gồm các ổ viêm màu đỏ xám ở mặt lưng lá phổi, có hoặc không có xuất huyết. Viêm phổi mãn hình thành các áp xe có phủ tơ huyết hoặc mủ ở viêm màng phổi hoặc viêm phổi mủ.

– Thể viêm tai: Thường không có triệu chứng lâm sàng. Chứng vẹo cổ xảy ra nếu chức năng tai giữa bị tổn hại do vi khuẩn trực tiếp tấn công hoặc do độc tố vi khuẩn ảnh hưởng. Dấu hiệu thần kinh và rối loạn vận động rõ rệt nếu vi khuẩn lan rộng tới màng não. Dịch tiết dạng kem màu trắng ở tai giữa tìm thấy ở 1 bên hoặc cả 2 bên tai.

– Thể nhiễm trùng sinh dục: Sự truyền lây qua đường sinh dục hoặc qua đường máu có thể xảy ra. Thỏ bệnh có thể có dịch tiết âm đạo từ dạng huyết thanh tới có mủ qua phối giống. Tử cung nở to với mủ. Nhiễm trùng tử cung cấp tính thể hiện 2 sừng tử cung hơi sưng chứa dịch xám. Ở nhiễm trùng mãn sừng tử cung sưng to, đầy dịch mủ và dễ vỡ. Ở thỏ đực tinh hoàn viêm sưng, đau, cứng ở 1 hoặc cả 2 bên, có thể có áp xe. Để giảm ảnh hưởng sức khỏe thỏ có thể giải phẫu lấy mô bị bệnh kết hợp kháng sinh điều trị.

– Thể áp xe: Vết thương nhiễm trùng và sự nhiễm trùng huyết là đường phổ biến làm các áp xe phát triển ở nhiều vị trí, nhưng đặc biệt là mô dưới da. Sự hiện diện của các mô dưới da bị sưng, chứa đầy dịch rỉ viêm dạng kem có sự dẫn lưu các lỗ rò là thể áp xe của tụ huyết trùng thỏ. Điều trị bằng cách giảm đau hoặc gây mê, nạo rửa vết thương, tiêm kháng sinh toàn thân 5-7 ngày.

– Thể viêm kết mạc: Triệu chứng gồm sự chảy nước mắt với sự co thắt mi, mí mắt đóng bởi nhiều chất tiết dạng mủ và dính bết mặt. Kết mạc đỏ có thanh dịch hoặc mủ dính bết. Sự viêm gây hẹp ống mũi lệ, cuối cùng gây chảy nước mắt mãn tính và mất lông. Dùng thuốc nhỏ mắt kết hợp điều trị tổng hợp.

– Thể bại huyết: thường gây chết cấp. Tuy nhiên có thể kết hợp cùng thể viêm phổi hoặc thể nhiễm trùng sinh dục trước khi chết. Sung huyết lan tỏa và xuất huyết đinh ghim phần nội tạng ở ngực, bụng, cũng như các áp xe có khi hoại tử ở thận, gan, phổi.

Phòng bệnh:

– Chuồng trại phải có thông gió tốt, nồng độ amoniac thấp, độ ẩm thấp để giảm tỷ lệ mắc bệnh. Tất cả thỏ bị nhiễm bệnh nên được tiêu hủy, lồng nuôi thỏ bị bệnh phải phun sát trùng để tiêu diệt vi khuẩn còn sót lại. Tất cả những người đến trại phải được sát trùng trước khi vào trại. Có thể sử dụng thuốc sát trùng chuồng trại Vime Iodine (15ml pha 4 lít nước) hoặc Vimekon (100g pha 20 lít nước) để loại bỏ mầm bệnh

– Thỏ sau cai sữa nên được nuôi riêng biệt với các chuồng thỏ sinh sản.

– Phòng bệnh bằng thuốc: định kỳ hoặc chú ý các giai đoạn thỏ dễ bị stress dùng thuốc trộn vào thức ăn hoặc nước uống để giảm nguy cơ mắc bệnh cho thỏ như:

Marbovitryl 250: 1ml/2,5 kg thể trọng (2ml pha 1 lít nước uống)

+ Hoặc Tetracolivet: 1g/ 3 kg thể trọng (2g pha 1 lít nước uống)

Điều trị: Có thể sử dụng:

– Kháng sinh tiêm :  Tulavitryl: 1ml/20 kg thể trọng, 1 liều duy nhất.

 

5. Bệnh cầu trùng (cocidiosis)

– Nguyên nhân: Do đơn bào ký sinh Eimeria gây nên trong điều kiện chăn nuôi vệ sinh kém. Thỏ con từ 2 tuần tuổi đã có thể nhiễm bệnh từ phân thỏ mẹ thải ra. Thỏ từ 6 – 18 tuần tuổi thường mắc bệnh này.

– Triệu chứng: Thỏ kém ăn, bị xù lông, đôi khi bị ỉa chảy; nếu kết hợp với bệnh viêm ruột, phân có thể lẫn máu. Thân nhiệt cao hơn bình thường, chảy nước mũi, nước dãi. Thời gian mang mầm bệnh kéo dài, thỏ gầy dần rồi chết. Bệnh có thể gây chết 50% tổng đàn.

– Điều trị: Dùng Rabbipain hoặc ESB3 pha 10 g/10 lít nuớc hoặc trộn 10 g/5kg thức ăn, dùng liên tục từ 3 – 5 ngày.

– Phòng bệnh: Đáy lồng chuồng phải có lỗ, rãnh thoát phân dễ dàng; dọn vệ sinh hàng ngày. Tăng cường sức đề kháng cho thỏ bằng cách bổ sung viatamin, các loại thức ăn có chất lượng. Có thể sử dụng các loại thuốc trên để phòng bệnh với liều sử dụng bằng 1/2 liều điều trị.

6. Bệnh viêm mũi

– Nguyên nhân: Do thời tiết thay đổi đột ngột, môi trường chăn nuôi quá chật chội, ẩm ướt, hoặc chuồng nuôi bị gió lùa vào ban đêm.

– Triệu chứng: Thỏ bị ngứa mũi, thường dùng chân trước dụi vào mũi làm trầy sướt. Thỏ bị hắt hơi, chảy nước mũi, kém ăn, lông xù, phản ứng chậm chạp; nếu không điều trị tích cực thường dẫn đến thỏ bị viêm mũi.

– Điều trị: Khi thỏ mới có biểu hiện chảy nuớc mũi, hắt hơi cần phải thay đổi môi truờng vệ sinh và nhỏ thuốc natriclohidric, tiêm thuốc đặc trị viêm mũi cho thỏ 1ml/2,5 kg  trở lên.

– Phòng bệnh: Cải thiện môi trường chăn nuôi tốt hơn. Thường xuyên bổ sung vitamin C cho thỏ uống để tăng cường sức đề kháng.

7. Bệnh viêm tuyến vú, viêm núm vú

Xảy ra trong điều kiện chăn nuôi mất vệ sinh, thỏ mẹ trong giai đoạn cho con bú rất dễ mắc bệnh này.

– Nguyên nhân: Chủ yếu do sữa bị đọng lại trong tuyến vú gây viêm, hoặc do nhiễm bẩn, nhiễm khuẩn từ đồ lót ổ qua núm vú hoặc vết thương ở vú.

– Triệu chứng: Thỏ bị viêm ở một hay nhiều núm vú hoặc cả tuyến vú, vùng viêm sẽ sưng to, nóng, đỏ da và đau. Trong sữa lẫn các chất máu, mủ, đôi khi hình thành các ổ áp-xe trong tuyến vú (có thể sờ bằng tay thấy nổi lên những cục u cứng dọc tuyến vú). Thỏ mẹ bị viêm vú thường mệt, ít hoạt động, không chịu cho con bú và kém ăn.

– Điều trị: Cần phải thay đổi môi trường vệ sinh. Sử dụng kháng sinh như Penicilin tiêm 5.000 UI/1kg thể trọng/ngày, hoặc tiêm Streptomycin liều 0,01 g/1kg thể trọng/ngày, liên tục trong 3 ngày.

– Phòng bệnh: Cải thiện môi trường chăn nuôi tốt hơn. Thường xuyên bổ sung vitamin C cho thỏ uống để tăng cường sức đề kháng.

 Trên đây là cách phòng ngừa các bệnh thường xảy ra trên thỏ newzealand và hướng điều trị bệnh mà Trung tâm  cung ứng và lai tạo thỏ giống miền Trung chia sẻ để bà con có thể dễ dàng xử lý trên đàn thỏ của mình.

Hoặc bà con hãy gọi ngay cho chúng tôi, với đội ngũ nhân viên kỹ thuật dày dạn kinh nghiệm nuôi thỏ giống newzealand tại Quảng Nam Đà Nẵng, bà con sẽ được tư vấn, hướng dẫn tận tình.

Hỗ trợ thanh toán

Chính sách cam kết

Hỗ trợ kĩ thuật
Chất lượng đầu ra
Giá thành thấp nhất

Follow: